Tin mới

Ngay sau khi buổi phỏng vấn kết thúc, nếu đương đơn không được cấp thị thực thì viên chức lãnh sự Mỹ luôn cung cấp thư từ chối bằng song ngữ Anh - Việt trình bày trên 2 mặt của 1 tờ giấy khổ A4, nội dung thư ghi rõ lý do từ chối cấp thị thực chiếu theo các điều khoản của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) như sau:

Điều khoản 214(b) - Visa Qualifications and Immigrant Intent
"Từ chối tạm thời vì đương đơn chưa hội đủ điều kiện được cấp thị thực không định cư" Điều khoản 214(b) của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) thường được áp dụng cho đương đơn xin các loại thị thực không định cư. Trong mọi cuộc phỏng vấn xét thị thực không di định cư, viên chức phỏng vấn phải áp dụng điều khoản 214(b) của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) để quyết định xem đương đơn có đủ điều kiện được cấp thị thực hay không. Một phần điều khoản này nêu rằng: “Mỗi đương đơn đều được xem như có ý định định cư cho đến khi đương đơn, vào thời điểm xin cấp thị thực, thuyết phục được viên chức lãnh sự rằng đương đơn hội đủ điều kiện được cấp thị thực không định cư”. Điều đó có nghĩa là viên chức Lãnh Sự xem xét trường hợp của đương đơn dựa trên tinh thần của điều luật, luôn cho rằng đương đơn có ý định định cư tại Hoa Kỳ cho đến khi đương đơn chứng minh được điều ngược lại. Cần nhấn mạnh rằng bản thân đương đơn phải có trách nhiệm chứng minh đương đơn hội đủ tiêu chuẩn để được cấp thị thực. Đương đơn xin thị thực phải thuyết phục được viên chức Lãnh Sự những điều sau:

  • Đương đơn phải sử dụng loại thị thực được cấp đúng mục đích và hợp pháp.
  • Đương đơn có đủ khả năng tài chính để chi trả cho chuyến đi của mình mà không tìm việc làm bất hợp pháp trong thời gian ở Hoa Kỳ.
  • Đương đơn có "các mối ràng buộc chặt chẽ" với quê hương và sẽ rời khỏi Hoa Kỳ sau thời gian lưu trú tạm thời.

Đương đơn có thể đưa ra những chứng cứ dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng khi tổng hợp lại, những chứng cứ này phải đủ để viên chức phỏng vấn đánh giá được hoàn cảnh chung của đương đơn và tin rằng những mối ràng buộc về xã hội, gia đình, kinh tế và các ràng buộc khác của đương đơn tại Việt Nam là lý do buộc đương đơn phải rời khỏi Hoa Kỳ sau khi kết thúc thời gian lưu trú tạm thời. “Những mối ràng buộc chặt chẽ” là các khía cạnh cuộc sống của đương đơn ràng buộc đương đơn với nơi mình cư trú, bao gồm các mối quan hệ gia đình, công việc và tài sản.

Trong trường hợp những đương đơn nhỏ tuổi chưa thể thiết lập được những ràng buộc nói trên, viên chức phỏng vấn sẽ xem xét trình độ học vấn, điểm số học tập, nghề nghiệp của cha mẹ, những kế hoạch dài hạn cũng như triển vọng của đương đơn ở Việt Nam. Vì mỗi đương đơn mỗi hoàn cảnh khác nhau, do đó sẽ không có bất kỳ câu trả lời mẫu nào chứng minh được những ràng buộc này. Mỗi đương đơn nên chuẩn bị để trình bày trường hợp của mình thật rõ ràng và súc tích.

Đương đơn có thể yêu cầu buổi phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh. Những ràng buộc cụ thể có đủ thuyết phục để được cấp thị thực hay không khác nhau tuỳ thuộc vào từng quốc gia, vào từng nền văn hoá, và tuỳ từng cá nhân. Tất cả các viên chức Lãnh Sự đều có kiến thức về tình hình địa phương và luật di trú Hoa Kỳ để giúp họ đưa ra quyết định này.

Điều khoản 214(b) không phải là 1 lệnh cấm vĩnh viễn. Nếu đương đơn đã bị từ chối cấp thị thực trước đây nhưng hiện tại đương đơn có thêm các thông tin mới, hoặc nếu hoàn cảnh chung của đương đơn đã thay đổi đáng kể, hoặc có các hồ sơ quan trọng chưa được xem xét trong lần phỏng vấn trước, thì đương đơn có thể nộp đơn xin phỏng vấn lại để được xử lý bởi một viên chức Lãnh Sự khác. Khi bị từ chối cấp thị thực, đương đơn không thể khiếu nại về quyết định của viên chức Lãnh Sự, nộp đơn tái phỏng vấn là cách duy nhất để hồ sơ của đương đơn được xem xét lại.

Một quan niệm sai lầm phổ biến về điều khoản 214(b) khi cho rằng chỉ cần bổ sung thêm hồ sơ là có thể hội đủ điều kiện được cấp thị thực. Tuy nhiên, quyết định về thị thực không đơn thuần chỉ dựa trên giấy tờ. Đúng hơn, viên chức lãnh sự luôn xem xét toàn bộ hoàn cảnh chung của đương đơn để quyết định xem trường hợp của đương đơn có nằm ngoài giả định của luật pháp Hoa Kỳ khi cho rằng đương đơn có ý định định cư hay không. Các giấy tờ cần thiết có thể giúp viên chức Lãnh Sự có những quyết định đúng đắn, tuy nhiên, không một giấy tờ riêng lẻ hay một thông tin đơn thuần nào bảo đảm việc được cấp thị thực.

Điều khoản 221(g) - Incomplete Application or Supporting Documentation
"Từ chối tạm thời cho đến khi đương đơn bổ sung đầy đủ thông tin hoặc hồ sơ cần thiết để được xét cấp thị thực" Khác với trường hợp thị thực bị từ chối theo điều khoản 214(b), nếu bạn bị từ chối theo điều 221(g) có nghĩa là viên chức lãnh sự không có đủ các thông tin hoặc hồ sơ cần thiết để xét cấp visa tại thời điểm bạn nộp đơn xin thị thực. Việc xét duyệt hồ sơ của bạn đang trong trạng thái chờ hành động kế tiếp với một trong hai lý do sau đây:

  • Đơn xin visa của bạn chưa hoàn tất hoặc thiếu các tài liệu cần thiết: Bạn sẽ nhận được một lá thư nói đơn xin visa của bạn đã bị từ chối theo điều 221(g) và danh sách tài liệu mà bạn cần phải cung cấp và làm thế nào để cung cấp cho các đại sứ quán hoặc lãnh sự quán.
  • Xử lý hành chính: Công tác xử lý hành chính về đơn xin visa của bạn là cần thiết để xem xét bạn có hội đủ điều kiện được cấp thị thực hay không. Bạn sẽ nhận được một lá thư nói rõ điều này và hướng dẫn bạn các bước kế tiếp. Thông thường thời gian xử lý hành chính có thể kéo dài đến 60 ngày.

Hầu hết các trường hợp bị từ chối theo điều khoản 212(g) chỉ cần thực hiện đúng các hướng dẫn trong thư từ chối để được xét cấp thị thực và không cần phải đóng lại phí phỏng vấn hoặc tham dự buổi phỏng vấn trực tiếp với viên chức lãnh sự. Các đương đơn sẽ có 12 tháng để gửi các giấy tờ được yêu cầu kể từ ngày nộp đơn mà không phải trả phí xét đơn xin visa mới. Sau 12 tháng, tình trạng bị từ chối theo điều khoản 221(g) sẽ hết hạn theo quy định của điều khoản 203(e) và khi đó đương đơn phải thực hiện hồ sơ xin thị thực lại từ đầu.

Điều khoản 214(a)(4) - Public Charge
"Từ chối tạm thời vì lý do đương đơn có thể là gánh nặng đối với ngân sách công của Hoa Kỳ" Đương đơn xin thị thực phải chứng minh đủ nguồn hỗ trợ tài chính trong thời gian dự định lưu trú tại Hoa Kỳ. Việc từ chối thị thực vì lý do "Gánh nặng đối với ngân sách công của Hoa Kỳ" thường ít xảy ra đối với các đơn xin thị thực không định cư, nhưng vẫn có thể xảy ra.

Điều khoản 214(a)(4) không phải là 1 lệnh cấm vĩnh viễn. Để vượt qua sự từ chối thị thực vì lý do "Gánh nặng đối với ngân sách công của Hoa Kỳ", đương đơn phải chứng minh rằng họ sẽ có đủ nguồn hỗ trợ tài chính trong thời gian họ dự định lưu trú tại Hoa Kỳ. Viên chức lãnh sự sẽ xem xét các bằng chứng bổ sung mà đương đơn nộp để xác định xem những bằng chứng đó có đủ để khắc phục tình trạng bị từ chối theo điều 214(a)(4) hay không.

Điều khoản 212(a)(9)(B)(i) - Unlawful Presence in the United States
"Hình phạt từ chối cấp thị thực trong 1 thời gian do đương đơn đã từng cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ"Điều khoản từ chối cấp thị thực 212(a)(9)(B)(i) áp dụng hình phạt có thời hạn cho các đương đơn bị cho là đã cư trú bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, hoặc đã ở lại Hoa Kỳ sau ngày hết hạn của thời gian được phép lưu trú. Khi bị từ chối cấp thị thực theo điều luật này, đương đơn không đủ điều kiện được cấp thị thực tùy theo khoảng thời gian đã cư trú bất hợp pháp như sau:

  • Cư trú bất hợp pháp tại Hoa Kỳ hơn 180 ngày nhưng dưới 1 năm: Không được cấp thị thực trong 3 năm kể từ ngày rời khỏi Hoa Kỳ.
  • Cư trú bất hợp pháp tại Hoa Kỳ hơn 1 năm: Không được cấp thị thực trong 10 năm kể từ ngày rời khỏi Hoa Kỳ.

Bạn sẽ được tư vấn bởi các viên chức lãnh sự nếu bạn ở trong trường hợp có thể nộp đơn xin miễn trừ tình trạng không đủ điều kiện cấp thị thực này.

Điều khoản 212(a)(6)(C)(i) - Fraud and Misrepresentation
"Từ chối cấp thị thực vĩnh viễn vì hồ sơ giả mạo hoặc cung cấp thông tin không đúng sự thật"

Điều khoản từ chối cấp thị thực 212(a)(6)(C)(i) của Bộ Di Trú và Nhập tịch áp dụng hình phạt nghiêm trọng đối với các đương đơn xin thị thực cố tình nộp bằng chứng giả mạo hoặc cung cấp thông tin sai lệch cho chính phủ Hoa Kỳ liên quan đến luật Nhập Tịch. Nếu đơn xin thị thực của đương đơn đã bị từ chối theo điều khoản 212(a)(6)(C)(i) vì lý do cung cấp thông tin sai lệch hoặc giấy tờ giả mạo cho viên chức Lãnh sự trong cuộc phỏng vấn, thì đương đơn sẽ VĨNH VIỄN không hội đủ điều kiện để nhập cảnh Hoa Kỳ.

Xin hiểu rằng điều này có nghĩa rằng, không những hồ sơ hiện tại của đương đơn sẽ bị từ chối, mà tất cả các đơn xin thị thực trong tương lai của đương đơn cũng sẽ bị từ chối, bất kể mục đích đến Hoa Kỳ của đương đơn, vị trí của đương đơn trong cộng đồng doanh nghiệp, nhà nước hay tuổi tác của đương đơn tại thời điểm nộp đơn xin thị thực sau này. Việc cung cấp thông tin sai lệch hoặc giấy tờ giả mạo trong buổi phỏng vấn xin thị thực là một hành vi phạm tội nghiêm trọng và sẽ tác động lâu dài đến cơ hội kinh doanh, học tập hoặc du lịch thăm viếng bạn bè thân nhân của đương đơn tại Hoa Kỳ trong tương lai. Xin vui lòng hết sức thận trọng vấn đề này khi chuẩn bị đơn xin thị thực.

Nếu quý vị từng bị từ chối cấp thị thực theo điều khoản 212(a)(6)(C)(i), trong một số trường hợp đặc biệt, Công ty tư vấn du học Thế Hệ Mới có thể giúp quý vị nộp đơn xin miễn trừ trường hợp này, tuy nhiên mỗi đương đơn đều có hoàn cảnh khác nhau nên chúng tôi chỉ có thể tư vấn dịch vụ đặc biệt này trực tiếp với quý vị theo lịch hẹn trước.

 

Công ty Thế Hệ Mới chuyên làm visa du học, du lịch, định cư từ năm 2004.

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Hotline: 084-CTY-VISA
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Trong nhiều năm qua, Hoa Kỳ đã trở thành một điểm đến du học hàng đầu của học sinh Việt Nam. Giáo dục Mỹ đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu học tập của mọi đối tượng, có nhiều trường được cấp phép nhận học sinh quốc tế theo học từ độ tuổi 12, tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là 4 chương trình du học Mỹ như sau:

 

1. Chương trình trung học phổ thông tại Mỹ

Học trung học tại Mỹ có nhiều lợi thế giúp học sinh đăng ký vào các trường đại học ở Mỹ thuận lợi hơn rất nhiều so với việc đăng ký trực tiếp vào Đại học từ nước ngoài. Lý do là các chương trình đào tạo ở trường trung học của nước này đã cung cấp nhiều kiến thức và kỹ năng quan trọng cho học sinh, ngoài ra các học sinh có năng lực học tập cao có thể đăng ký học các môn AP để hoàn thành một số tín chỉ chương trình đại học ngay khi còn đang học trung học. Chính vì thế, nhiều chuyên gia cho rằng việc học trung học phổ thông tại Mỹ sẽ giúp học sinh quốc tế có được những chuẩn bị tốt nhất về mặt kiến thức cũng như kỹ năng trước khi bước vào ngưỡng cửa cao đẳng - đại học tại Mỹ. Năm điều mà học sinh quốc tế nhận được khi du học Mỹ từ bậc trung học là:

  • Nâng cao các kỹ năng thông thạo tiếng Anh.
  • Chọn đúng chuyên ngành phù hợp.
  • Thuận tiện hơn trong khâu nộp đơn vào Đại học.
  • Rèn luyện các kỹ năng học tập quan trọng.
  • Nâng cao kiến thức xã hội.

Trường trung học ở Mỹ thường bắt đầu từ lớp 9 đến lớp 12. Học sinh tham gia nhiều môn học nhưng không chú trọng đặc biệt trong bất kỳ lĩnh vực cụ thể nào. Học sinh được yêu cầu học một số môn bắt buộc, nhưng luôn có thể chọn các môn tự chọn. Mỗi tiểu bang đặt ra yêu cầu tối thiểu cho bao nhiêu năm của môn học bắt buộc khác nhau, nhưng thường bao gồm 2-4 năm của từng môn: Khoa học, Toán, tiếng Anh, khoa học xã hội, giáo dục thể chất; một số năm của một ngôn ngữ phụ và một số hình thức của giáo dục nghệ thuật, như chương trình y tế trong đó học sinh tìm hiểu về giải phẫu học, dinh dưỡng và giáo dục giới tính.

Nhiều trường trung học cung cấp chương trình danh dự Honor Program, chương trình nâng cao Advanced Placement (AP) hoặc tú tài quốc tế (IB). Đây là những hình thức đặc biệt mà học sinh gặp nhiều thử thách và bài học tích cực hơn so với nhịp độ khóa học tiêu chuẩn. Honors, AP hay IB thường được thực hiện trong các lớp 11 hoặc 12 của trường trung học, nhưng có thể được thực hiện sớm nhất là lớp 9, trong đó AP dùng để hoàn thành một số tín chỉ chương trình đại học ngay khi học sinh còn đang học trung học.

Học sinh quốc tế có thể đăng ký xin thị thực loại F-1 để nhập học tại một trường trung học tư thực hoặc loại J-1 để tham gia chương trình giao lưu văn hóa tại 1 trường công lập. Mỹ khuyến nghị du học sinh quốc tế chọn trường trung học tư thục (private high school) với loại visa F-1, tuy nhiên luật di trú Mỹ cũng cho phép học sinh quốc tế học tối đa 12 tháng tại 1 trường trung học công lập (public high school) bằng loại visa F-1 nếu trường công lập đó được phép cấp I-20.

 

2. Chương trình cao đẳng cộng đồng tại Mỹ

Có khoảng 15 triệu sinh viên đang học tại 1,132 trường cao đẳng cộng đồng (community college) trên khắp nước mỹ, gần 45% sinh viên tốt nghiệp đại học đã học tại cao đẳng cộng đồng và sau đó chuyển tiếp lên đại học. Ngày càng có nhiều sinh viên quốc tế học tập tại các trường cao đẳng cộng đồng Mỹ, nơi đem đến cơ hội phổ biến giúp sinh viên hoàn thành hai năm đầu chương trình cấp bằng cử nhân. Sinh viên quốc tế coi trường cao đẳng cộng đồng như điểm khởi đầu trong nỗ lực học tập lấy bằng đại học bốn năm hoặc bằng cao học tại một trường đại học Mỹ.

Trong thực tế, nhiều chuyên gia tư vấn đại học cho rằng sinh viên nên học chương trình giáo dục cơ bản tại trường cao đẳng cộng đồng trước, sau đó chuyển tiếp lên đại học để hoàn tất giai đoạn 2 năm chuyên ngành cuối cùng. Nhiều trường cao đẳng cộng đồng và trường đại học hệ bốn năm ký hợp đồng liên kết giúp cho việc chuyển tiếp được dễ dàng hơn. Ví dụ, khi sinh viên nộp đơn vào Cao đẳng Seattle Central College, sinh viên có thể tham gia chương trình Đảm Bảo Chuyển Tiếp đến trường Johns Hopkins University - Carey Business School sau khi hoàn tất bằng cao đẳng (associate's degree) với điểm trung bình từ 3.0 trở lên.

Ngoài chương trình chuyển tiếp lên đại học, trường cao đẳng cộng đồng ở Mỹ còn có các chương trình dạy nghề. Các chương trình này đào tạo sinh viên hàng trăm ngành nghề khác nhau: quản trị kinh doanh, lập trình máy tính, điều dưỡng, thiết kế thời trang, quản lý khách sạn và nhà hàng, công nghệ nano, công nghệ nhiếp ảnh, kỹ thuật hoặc nghệ thuật quảng cáo. Sinh viên hoàn thành các khóa học này sẽ nhận được bằng hoặc chứng chỉ. Sinh viên quốc tế hoàn thành chương trình dạy nghề tối thiểu chín tháng có đủ điều kiện tham gia chương trình thực tập tùy chọn (optional practical training) và được phép làm việc liên quan đến lĩnh vực đã học có nhận lương trong khoản thời gian tối đa 12 tháng.

Học ở cao đẳng cộng đồng khác với học ở trường đại học hệ bốn năm ở những điểm sau:

  • Nhập học dễ dàng: 
Điểm TOEFL hoặc IELTS và các yêu cầu tuyến sinh đối với trường cao đẳng cộng đồng thường thấp hơn so với trường đại học hệ bốn năm. Nhiều trường cao đẳng cộng đồng có chương trình ESL (Dạy Tiếng Anh Cho Người Nước Ngoài) hoặc bồi dưỡng toán cho các sinh viên có điểm quá thấp trước khi bắt đầu học chương trình học thuật.
  • Học phí thấp: Học phí tại trường cao đẳng cộng đồng có thể thấp hơn từ 30% đến 80% so với trường đại học của Mỹ. Điều này giúp sinh viên tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong hai năm đầu lấy bằng cử nhân.
  • Sĩ số lớp học nhỏ: Số lượng sinh viên trong lớp hoặc trong trường thường ít hơn so với trường đại học hệ bốn năm. 
Giảng viên và chuyên gia tư vấn có thể dành nhiều thời gian cho từng sinh viên hơn. Nhiều sinh viên quốc tế và Mỹ cho rằng học tập tại trường có quy mô nhỏ trong hai năm đầu giúp sinh viên dễ dàng hòa nhập với trường đại học hệ bốn năm quy mô lớn trong hai năm cuối đại học.
  • Môi trường lớp học thân thiện: 
Trong môi trường giáo dục Mỹ, sinh viên thường cạnh tranh nhau về điểm số. Sinh viên quốc tế không nói tiếng Anh tốt thường bị hạn chế. Thông thường, sinh viên quốc tế sẽ cảm thấy vui vẻ và thoải mái hơn trong lớp học quy mô nhỏ nơi có ít sự cạnh tranh hơn.
  • Dịch vụ hỗ trợ mạnh mẽ: Các trường cao đẳng cộng đồng thường cung cấp dịch vụ cho sinh viên quốc tế chu đáo hơn như hướng dẫn nộp đơn xin visa, tìm nhà ở, đón sân bay, tư vấn chọn lớp học, hỗ trợ các vấn đề về di trú.
  • Thích nghi dễ dàng: Hai năm tại trường cao đẳng cộng đồng giúp sinh viên quốc tế nâng cao kỹ năng tiếng Anh và làm quen với hệ thống giáo dục và văn hóa Mỹ.

 

3. Chương trình đại học tại Mỹ

Giáo dục đại học tại Mỹ nói chung đi theo triết lý là giáo dục toàn diện, từ đào tạo cử nhân (bachelor), thạc sĩ (master) đến tiến sĩ (Phd). Điều này có nghĩa rằng bất kể con đường học tập của bạn như thế nào, bạn sẽ được tiếp xúc với một loạt các khóa học trong các ngành khoa học xã hội, nhân văn, ngôn ngữ và khoa học tự nhiên. Văn bằng đại học ở Mỹ được gọi là bằng cử nhân, chương trình đào tạo cử nhân có độ linh hoạt cao và cho phép sinh viên tạo ra con đường học tập riêng của mình. Bằng cử nhân được cấp khi bạn hoàn thành được một số tín chỉ nhất định trong khoảng thời gian 4 năm. Sau khi hoàn tất mỗi môn học sinh viên sẽ nhận được số từ 3 đến 5 tín chỉ. Để nhận được bằng cử nhân sinh viên cần hoàn tất từ 120 - 130 tín chỉ học kỳ (semester credits) hoặc đến 180 - 190 tín chỉ mùa (quarter credits).

Hầu hết các chương trình cấp bằng cử nhân gồm bốn loại khóa học. Các khóa học cốt lõi là các khóa học bắt buộc quy định bởi trường và thường bao gồm một loạt các khóa học nhân văn, khoa học xã hội và toán học. Chuyên ngành chính của bạn là ngành mà bạn chọn tập trung nghiên cứu và chiếm từ 25 phần trăm và 50 phần trăm tổng số các khóa học để lấy bằng cử nhân của bạn. Chuyên ngành phụ của bạn là chuyên ngành học tập trung lớn thứ hai. Số lượng tín chỉ của nó thường bằng một nửa số tín chỉ của chuyên ngành chính. Các khóa học tự chọn có thể được lựa chọn học ở bất kỳ một khoa nào và bao gồm số tín chỉ cần thiết còn lại để tốt nghiệp.

Tiêu chí tuyển sinh đại học Mỹ thông thường yêu cầu:

  • Sinh viên đã hoàn tất bằng tốt nghiệp trung học.
  • Thông thạo tiếng Anh qua kết quả thi TOEFL iBT từ 61 điểm hoặc IELTS 6.0.
  • Các bài kiểm tra chuẩn hóa khác như SAT I, SAT II hoặc ACT.
  • Đủ khả năng tài chính để trang trải cho 1 năm học đầu tiên.

 

4. Chương trình học tiếng Anh tại Mỹ

Hàng năm có khoản 10,000 du học sinh đến Mỹ để học tiếng Anh. Nhiều sinh viên đến Mỹ học tiếng Anh để chuẩn bị nhập học vào đại học và cao đẳng ở Mỹ; các sinh viên khác đến để học tiếng Anh và trải nghiệm cuộc sống Mỹ; một số sinh viên đến để nâng cao tiếng Anh giúp tìm một công việc tốt hơn tại quê nhà.

Có thể chương trình Anh ngữ không phải là lựa chọn đầu tiên khi sinh viên nghĩ đến và nhiều sinh viên nghĩ rằng kỹ năng tiếng Anh của mình là tốt. Nhưng, sinh viên nên cân nhắc kỹ chương trình Anh ngữ, đặc biệt là chương trình tiếng Anh chuyên sâu. Nâng cao kỹ năng tiếng Anh sẽ giúp sinh viên có cơ hội đạt điểm TOEFL hoặc IELTS cao hơn, điều đó có nghĩa là sinh viên sẽ có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn trường phù hợp với định hướng học tập. Sinh viên cũng sẽ thấy lớp học trở nên dễ dàng hơn và học tập tốt hơn nhờ có khả năng tiếng Anh tốt.

Môi trường lớp học và hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ rất khác biệt. Sinh viên được khuyến khích tham gia thảo luận trong lớp, chia sẻ quan điểm, tranh luận và giải thích lý do, trình bày trước lớp và làm việc theo nhóm với các sinh viên khác trong lớp. Tham gia trong lớp cùng với bài kiểm tra, bài đố và làm các dự án là các yếu tố quyết định điểm số của môn học. Hầu hết các khóa học tiếng Anh đều có các đặc điểm như sau:

  • 20-25 giờ học mỗi tuần.
  • 5 cấp độ, mỗi cấp độ kéo dài 1 học kỳ hoặc 12 cấp độ, mỗi cấp độ kéo dài 1 tháng.
  • Sĩ số trung bình từ 16 đến 45 học viên/lớp, trường có sĩ số lớp học càng cao thì mức học phí càng thấp.
  • Học phí trung bình từ $600 đến $1,800/tháng tùy trường và tùy đặc điểm chương trình học.

 

Thông tin chi tiết xin vui lòng liên hệ với các văn phòng của Công Ty Tư Vấn Du Học Thế Hệ Mới:

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • TP. Hội An: 570A Cửa Đại, Phường Sơn Phong. ĐT: (0235) 3911668
  • Website: https://www.thm.vn

 

Page 6 of 6