Tin tức

Các học sinh trung học có kết quả học tập tốt có thể tham gia hai chương trình học nâng cao với những cái tên viết tắt: AP (Advanced Placement test) tức là học và thi các môn của trình độ đại học, còn IB là Chương trình học bằng Tú tài Quốc tế. AP và IB khác nhau ở một số điểm nhưng cả hai đều đòi hỏi học sinh phải tham dự các khóa học cấp độ cao, giúp họ đạt được kết quả cạnh tranh hơn khi học tập tại trường đại học.

Chương trình AP được xây dựng năm 1955, do Hiệp hội các trường đại học Mỹ (College board) điều hành. Hiệp hội này có hơn 5.200 trường trung học, đại học và các tổ chức giáo dục khác. Thông qua AP, Hiệp hội xây dựng các khóa học cấp đại học với hơn 30 môn mà học sinh có thể theo học khi đang học trung học. Học sinh tham gia AP đạt các tín chỉ của các môn thuộc chương trình đại học ở Mỹ và hơn 40 quốc gia khác với điều kiện là các bài thi AP trong thời gian học trung học (lớp 11 và 12) phải đạt mức điểm yêu cầu. Theo Bộ Giáo dục Mỹ, hơn 60% các trường trung học Mỹ có các khóa học AP. Các bài thi phổ biến nhất gồm tính toán, văn học Anh và lịch sử. Năm 2006, hơn 24% học sinh trung học Mỹ tham gia các kỳ thi của AP, tăng lên so với 16% vào năm 2000.

Chương trình học Tú tài Quốc tế (IB) do Tổ chức Tú tài Quốc tế (IBO) tại Thụy Sĩ điều hành với mục tiêu xây dựng một chương trình giảng dạy chung và hệ thống tín chỉ được các trường đại học và cao đẳng ở các quốc gia khác công nhận. Tổ chức Tú tài Quốc tế gồm hơn 2.000 trường ở 125 quốc gia, trong đó gần 800 trường ở Mỹ. Học sinh phải theo một chương trình học tập rất nghiêm ngặt gồm 6 môn: tiếng Anh, ngoại ngữ, khoa học, toán học, khoa học xã hội và nghệ thuật.Học sinh còn phải dành 200 giờ phục vụ cộng đồng và viết một bài luận 4.000 từ dựa trên nghiên cứu độc lập, học sử dụng vi tính trong một lớp học dành cho người lớn.

Chương trình tú tài quốc tế IB (International Baccalaureate) và các khóa học xếp lớp nâng cao AP (Advanced Placement) đều mang lại nhiều lợi ích cho chương trình giảng dạy phổ thông, giúp học sinh hiểu hơn về sự khắt khe cũng như những lợi thế khi bước vào giảng đường đại học. Cả hai chương trình được thiết kế nhằm giúp học sinh Trung học tiếp cận với một trình độ giáo dục cao cấp hơn, những kiến thức mà các em chưa được học ở bậc phổ thông. Tuy nhiên, vẫn có nhiều sự khác biệt giữa cấu trúc chương trình và phong cách học tập giữa hai chương trình này.

 

Cấu trúc của chương trình AP

Chương trình AP cung cấp các khóa học và kỳ thi chứng chỉ trình độ đại học ở từng môn học cụ thể. Năm 2013, đã có hơn 30 môn học và thi từ Hóa học, Latin, Lý thuyết âm nhạc, Ngôn ngữ và Văn hóa Nga đến nghệ thuật Studio. Nhiều trường trung học phổ thông tổ chức các khóa học AP cho học sinh; tuy nhiên, những học sinh tự học tại nhà hoặc không có điều kiện tham gia các khóa học AP vẫn có thể đăng ký dự thi các kỳ thi AP. Bài dự thi sẽ được gửi đến Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ (Educational Testing Service) để chấm điểm. Các khóa học và kỳ thi AP là sự lựa chọn tuyệt vời cho những học sinh muốn đạt được trình độ cao hơn ở một môn học cụ thể nào đó.

 

Cấu trúc của chương trình IB

Chương trình tú tài quốc tế IB là một chương trình đào tạo hai năm dành cho những học sinh muốn tiếp cận một nền giáo dục toàn diện. Chương trình được thiết kế sâu rộng với 6 nhóm môn học: Ngôn ngữ và Văn học, Ngôn ngữ thứ hai, Cá nhân và xã hội, Khoa học, Toán học và Nghệ thuật. Vì chương trình IB được công nhận trên toàn cầu nên học sinh có thể học và tham dự các kỳ thi bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc tiếng Tây Ban Nha. Kết quả thi sẽ được công nhận trên toàn thế giới

 

Chương trình giảng dạy

Chương trình IB được thiết kế sâu rộng và toàn diện. Mỗi học sinh sẽ chọn 6 môn học, 5 môn đầu tiên chọn từ nhóm 1 đến nhóm 5, trừ nhóm môn học nghệ thuật. Môn thứ 6 là môn tự chọn, có thể chọn môn ở nhóm 6 hoặc bất kỳ môn nào khác thuộc 5 nhóm đầu tiên. Ngoài ra, để nhận được bằng IB, học sinh phải hoàn thành khóa học Lý thuyết của nhận thức (Theory of Knowledge - TOK), một bài luận văn chuyên sâu dài 4.000 từ (extended essay - EE) và chương trình Sáng tạo - Hành động - Phục vụ (Creativity, Action and Service - CAS) trong 150 giờ. Với thời gian đào tạo hai năm, các khóa học IB có tiến độ chậm hơn các khóa học AP nhằm mang đến cho học sinh những tri thức chuyên sâu. Các khóa học AP được đào tạo nhanh hơn giúp học sinh có được kiến thức bao quát về một môn học cụ thể. Nhiều khóa học của cả AP và IB đòi hỏi khả năng đọc hiểu và tư duy phân tích cao. Chương trình IB đặc biệt nhấn mạnh các kỹ năng viết, tất cả các kỳ thi IB đều là thi viết. Trong khi kết quả của kỳ thi IB là sự kết hợp giữa kết quả thi viết và thành tích học tập của học sinh trong khóa học, thì điểm số của kỳ thi AP chỉ dựa vào kết quả thi.

Chuẩn bị cho con đường đại học Về cơ bản, bằng IB và chứng chỉ AP đều có giá trị riêng và học sinh của cả hai chương trình đều có được sự tự tin cao trên con đường chinh phục ngưỡng cửa đại học danh tiếng. Tuy nhiên, những học sinh nào muốn theo học tại một trường đại học nằm ngoài Mỹ và Canada, thì bằng IB sẽ phù hợp hơn do được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Vì chương trình IB tập trung nhiều vào các kỹ năng viết và tư duy phân tích, nên nhiều giáo sư cho rằng bằng IB sẽ chuẩn bị tốt hơn cho học sinh khi thi vào các trường đại học. Ngược lại, những học sinh muốn theo đuổi một chuyên ngành cụ thể ở bậc đại học tại Mỹ hoặc Canada, thì các khóa học và kỳ thi AP của riêng từng môn sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn.

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Hệ thống giáo dục Mỹ có nhiều lựa chọn ngành học cho sinh viên quốc tế. Sự phong phú về trường, chương trình học và địa điểm mang đến cho sinh viên nhiều lựa chọn nhưng nhiều khi cũng sẽ khó quyết định, thậm chí đối với cả sinh viên Mỹ. Khi bắt đầu lập kế hoạch du học, điều quan trọng là phải tìm hiểu kỹ hệ thống giáo dục Mỹ. Hiểu biết về hệ thống giáo dục Mỹ sẽ giúp sinh viên đưa ra được những lựa chọn đúng đắn và phát triển kế hoạch học tập của mình. Sau đây là những nét đặc trưng của giáo dục đại học tại Mỹ:

  • Tính độc lập: Không như một số quốc gia khác, nền giáo dục của Hoa Kỳ không bị kiểm soát hoặc can thiệp từ chính phủ, mỗi trường có quyền tự thiết lập giáo trình giảng dạy riêng dựa trên các tiêu chuẩn tốt nghiệp cơ bản do Cơ Quan Giáo Dục Tiểu Bang (State Department Of Education) hoặc Học Khu Địa Phương (Local School District) yêu cầu.
  • Tính đa dạng: Giáo dục đại học Hoa Kỳ đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu học tập của sinh viên. Hoa Kỳ có nhiều loại trường đại học với những mục tiêu đào tạo khác nhau, mỗi trường có những yêu cầu tuyển sinh dựa trên những mối quan tâm và yêu cầu năng lực học thuật khác nhau, phục vụ cho những mục tiêu khác nhau của xã hội.
  • Tính chất mở: Bất kỳ người nào muốn theo học một trường sau trung học đều có thể được chấp nhận. Một số trường mang tính chọn lọc cao, nhưng hầu như tất cả mọi người có bằng tốt nghiệp phổ thông đều có thể được nhận vào học ở một trường đại học nào đó.
  • Tính linh hoạt: Giáo chức có thể chuyển trường, sinh viên cũng có thể chuyển trường hoặc chuyển ngành học nếu họ không hài lòng với trường đang học hoặc mục tiêu đào tạo của họ thay đổi. Sinh viên hoàn toàn có thể chủ động trong việc định hướng đào tạo cho riêng mình.
  • Tính cạnh tranh: Các trường đại học cạnh tranh để tuyển những sinh viên giỏi nhất, những giáo chức có năng lực nhất, có nguồn kinh phí mạnh nhất cho nghiên cứu và qua đó nâng cao vị thế của nhà trường.
  • Quyền tự do học thuật: Giáo chức và sinh viên đều có quyền tự do về học thuật để theo đuổi những nghiên cứu, nêu lên những vấn đề về học thuật, về xã hội.
  • Tính ổn định của đội ngũ giáo chức: Mặc dù đã và đang có nhiều thay đổi về bản chất của việc bổ nhiệm giáo chức và sắp xếp hoạt động học thuật, hầu hết giảng viên khối giáo dục sau trung học đều được bổ nhiệm toàn thời gian ổn định. Điều đó đem lại cho họ sự an toàn về nghề nghiệp, sự đảm bảo quyền tự do học thuật đồng thời có một mức sống đạt chuẩn mực.
  • Sự quản lý mạnh: Hiệu trưởng các trường đại học ở Hoa Kỳ được tuyển chọn không phải bởi chính quyền hay đội ngũ giáo chức, họ được tuyển bởi một hội đồng quản trị gần như hoàn toàn độc lập, với đầu vào là các giáo chức nhiều năng lực.
  • Nền giáo dục hướng vào sinh viên: Hầu hết các trường đại học ở Hoa Kỳ đều lấy sinh viên làm trọng tâm; họ chú trọng đến giảng dạy nhiều hơn là nghiên cứu. Chỉ có một tỉ lệ nhỏ các trường đại học uy tín nhất là hoàn toàn theo định hướng nghiên cứu.
  • Đa dạng nguồn cấp kinh phí: Giáo dục đại học Hoa Kỳ cung cấp nguồn kinh phí cho sinh viên thông qua nhiều loại hình như cho sinh viên vay học phí, hỗ trợ tài chính, chương trình cấp học bổng, chương trình làm việc có trả lương, trợ cấp của tiểu bang và từ sự tài trợ của gia đình sinh viên.

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Môi trường lớp học

Lớp học có thể có quy mô lớn với hàng trăm sinh viên hoặc sĩ số nhỏ và hội thảo (thảo luận trong lớp) với chỉ một vài sinh viên. Môi trường lớp học tại trường đại học Mỹ rất năng động. Sinh viên sẽ phải chia sẻ kinh nghiệm, tranh luận, tham gia thảo luận trong lớp và thuyết trình trước lớp. Sinh viên quốc tế sẽ nhận thấy đó là những trải nghiệm thú vị nhất trong hệ thống giáo dục Mỹ.

Hàng tuần, giảng viên sẽ yêu cầu sinh viên đọc sách giáo khoa và các ấn phẩm khác. Giảng viên sẽ yêu cầu sinh viên cập nhật thông tin qua việc đọc và làm bài tập giúp sinh viên tham gia thảo luận trong lớp và hiểu bài giảng. Một số chương trình cấp bằng cũng yêu cầu sinh viên dành thời gian trong phòng thí nghiệm. Giảng viên là người cho điểm sinh viên tham gia lớp học.

Điểm học được tính dựa trên:

- Mỗi giảng viên sẽ có yêu cầu khác nhau về đóng góp của sinh viên trong lớp học, nhưng giảng viên luôn khuyến khích sinh viên tham gia thảo luận trong lớp, đặc biệt là các buổi hội thảo. Đây là một yếu tố quan trọng để cho điểm sinh viên.

- Trong quá trình học thường có bài Kiểm tra giữa kỳ. Ngoài ra, sinh viên còn được yêu cầu nộp một hoặc nhiều bài nghiên cứu hoặc báo cáo, các bài này đều ảnh hưởng đến kết quả học tập cuối kỳ.

- Có thể có bài kiểm tra ngắn hoặc bài đố nhanh. Đôi khi giảng viên sẽ yêu cầu làm bài “đố nhanh” mà không thông báo trước. Các bài kiểm tra dạng này sẽ không chiếm tỷ lệ lớn trong điểm số cuối kỳ, mà chỉ để khuyến khích sinh viên tham gia lớp học và làm bài tập về nhà.

- Bài kiểm tra cuối khóa sẽ được thực hiện trong tuần cuối của kỳ học.

 

Hệ thống tín chỉ

Mỗi một môn sẽ tương đương một số lượng tín chỉ nhất định hoặc số giờ tín chỉ. Số tín chỉ này tương đương với số giờ sinh viên lên lớp cho môn học đó mỗi tuần. Một môn học có khoảng bốn đến năm tín chỉ. Chương trình toàn thời gian ở hầu hết các trường có 12 đến 15 giờ tín chỉ (bốn hoặc năm môn một học kỳ) và sinh viên phải hoàn thành số lượng tín chỉ nhất định trước khi tốt nghiệp. Sinh viên quốc tế phải tham gia khóa học toàn thời gian trong suốt học kỳ.

 

Hệ thống thang điểm

Giống như sinh viên Mỹ, sinh viên quốc tế sẽ phải nộp bảng điểm trong quá trình nộp đơn vào trường cao đẳng hoặc đại học. Bảng điểm là văn bản chính thức kết quả học tập của sinh viên. Tại Mỹ, bảng điểm bao gồm cả “điểm” và “điểm trung bình” (GPA), là kết quả học tập sinh viên đạt được. Các khóa học thường được tính điểm theo tỷ lệ phần trăm và sau đó được chuyển đổi ra điểm.

Hệ thống điểm và điểm trung bình GPA tại Mỹ có thể không dễ hiểu đặc biệt đối với sinh viên quốc tế. Có nhiều cách giải thích cách tính điểm này. Ví dụ, hai sinh viên học tại hai trường khác nhau cùng nộp bảng điểm cho một trường đại học. Cả hai sinh viên đều có số điểm trung bình là 3.5, nhưng một sinh viên học trường trung học bình thường và sinh viên kia học trường trung học danh tiếng với nhiều áp lực học tập hơn. Trường đại học có thể diễn giải điểm trung bình GPA của hai sinh viên này khác nhau vì hai trường trung học có tiêu chí hoàn toàn khác nhau.

Vì vậy, cần lưu ý một vài điều quan trọng sau:

- Sinh viên nên lựa chọn trường tại Mỹ phù hợp với trình độ học vấn trong nước tại thời điểm tìm trường.

- Tìm hiểu kỹ yêu cầu tuyển sinh tại trường đại học cũng như từng chương trình học vì có thể có những yêu cầu khác nhau.

- Thường xuyên liên lạc với tư vấn giáo dục hoặc người hướng dẫn của trường để cập nhật thông tin tuyển sinh.

Chuyên viên tư vấn giáo dục hoặc người hướng dẫn sẽ giúp sinh viên biết liệu có cần học một hoặc hai năm trước khi được tuyển vào đại học hay không.

 

Chuyển tiếp

Nếu sinh viên đăng ký học một trường khác trước khi tốt nghiệp, số tín chỉ mà sinh viên đã học tại trường đại học đầu tiên sẽ được tính vào số điểm tại trường đại học giúp hoàn thành chương trình học. Điều đó có nghĩa là sinh viên có thể chuyển tiếp sang trường khác mà vẫn tốt nghiệp đúng thời gian.

Một đặc điểm riêng của hệ thống giáo dục bậc cao của Mỹ là sinh viên có thể thay đổi ngành học hoặc trường học bất cứ lúc nào họ muốn. Việc thay đổi ngành học hay trường học là hoàn toàn bình thường đối với sinh viên Mỹ.

 

Lịch học

Lịch học thường bắt đầu vào tháng Tám và tháng Chín và tiếp tục vào tháng Năm hoặc tháng Sáu. Phần lớn học sinh bắt đầu học vào mùa thu vì vậy sinh viên quốc tế cũng nên bắt đầu học vào thời điểm này. Có nhiều điều thú vị khi bắt đầu một năm học mới, sinh viên có thể kết bạn với nhau vào lúc này khi tất cả cùng bắt đầu cuộc sống mới trong giảng đường đại học. Ngoài ra, sinh viên có thể học nhiều khóa học, bắt đầu từ tháng Tám và liên tục trong cả năm.

Ở một số trường, năm học gồm có hai kỳ hay còn gọi là “semesters.” (Một vài trường có lịch học ba kỳ, hay còn gọi là “trimester”) Ngoài ra, có một số trường theo hệ thống quý gồm bốn kỳ, bao gồm cả kỳ mùa hè không bắt buộc. Thông thường, nếu không tính kỳ mùa hè, một năm học sẽ gồm có hai semesters hoặc ba quarters.

 

Thông tin chi phí

Ước tính cho 1 năm học/24 tín chỉ
Học phí: $12,681/năm
Sinh hoạt phí: $7,866/năm
Sách vở: $1,200/năm
Bảo hiểm: $1,172/năm

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Khác với loại trường đại học, ở Mỹ không có bảng xếp hạng giáo dục chính thức cho loại hình trường Cao đẳng cộng đồng. Lý do chính là sứ mệnh của trường cao đẳng cộng đồng nhằm mang lại các chương trình giáo dục đại cương và huấn nghệ với chi phí thấp, nên đội ngũ giảng viên chỉ tập trung vào việc dạy và học, khác với môi trường dạy + học + nghiên cứu + cạnh tranh như môi trường đại học.

Hiện nay toàn nước Mỹ có 1,132 trường cao đẳng cộng đồng, một số trường thu hút hàng ngàn sinh viên quốc tế từ nhiều quốc gia thông qua chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất, mức học phí hấp dẫn và dịch vụ sinh viên chu đáo. Dưới đây là danh sách 40 trường cao đẳng có nhiều sinh viên quốc tế nhất Hoa Kỳ năm học 2014-2015 do tổ chức giáo dục www.iie.org thống kê, với danh sách này các bạn có thể lựa chọn điểm đến du học tốt nhất cho mình. Các trường đánh dấu * đã bổ nhiệm Thế Hệ Mới làm đại diện tuyển sinh chính thức tại Việt Nam.

Hạng Tên trường Địa điểm Số SV quốc tế
1 Houston Community College System Houston, TX 5,441
2 Santa Monica College* Santa Monica, CA 3,562
3 De Anza College Cupertino, CA 2,915
4 Seattle Central College* Seattle, WA 2,171
5 Lone Star College System Woodlands, TX 1,998
6 Diablo Valley College* Pleasant Hill, CA 1,954
7 Montgomery College Rockville, MA 1,877
8 Johnson County Community College Overland Park, KS 1,834
9 Northern Virginia Community College* Annandale, VA 1,801
10 Green River College* Auburn, WA 1,736
11 Miami-Dade College Miami, FL 1,675
12 Edmonds Community College Lynnwood, WA 1,620
13 Santa Barbara City College Santa Barbara, CA 1,521
14 Foothill College Los Altos Hills, CA 1,451
15 Richland College Dallas, TX 1,293
16 City College of San Francisco San Francisco, CA 1,208
17 Valencia College Orlando, FL 1,087
18 Bellevue College* Bellevue, WA 1,086
18 Nassau Community College Garden City, NY 1,086
20 Orange Coast College Costa Mesa, CA 1,052
21 Pasadena City College Pasadena, CA 1,038
22 Shoreline Community College* Shoreline, WA 1,010
23 North Seattle College* Seattle, WA 974
24 CUNY Borough of Manhattan Community College New York, NY 852
25 Peralta Community College District Oakland, CA 851
26 Collin County Community College District McKinney, TX 842
27 Bunker Hill Community College Boston, MA 831
28 El Camino College Torrance, CA 785
29 San Antonio College San Antonio, TX 771
30 East Los Angeles College Monterey Park, CA 724
30 Kapiolani Community College Honolulu, HI 724
32 Glendale Community College Glendale, CA 669
33 Bergen Community College Paramus, NJ 668
34 CUNY LaGuardia Community College Long Island City, NY 610
35 Georgia Perimeter College Clarkston, GA 569
36 Mt. San Antonio College Walnut, CA 564
37 Citrus College Glendora, CA 556
38 Austin Community College Austin, TX 554
39 Tacoma Community College* Tacoma, WA 550
40 South Seattle College* Seattle, WA 545

 

Nếu bạn dự định du học tại 1 trong số 40 trường trên, hãy liên lạc ngay với công ty tư vấn du học uy tín Thế Hệ Mới nhé:

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Duy nhất tại tiểu bang Washington, học sinh trung học đủ 16 tuổi có thể "học nhảy lớp" đến hai năm bằng cách theo học chương trình "Hoàn tất trung học sớm" tại một trường cao đẳng cộng đồng, phần lớn các học sinh chăm chỉ của chương trình đều nhận được bằng tốt nghiệp trung học và bằng cao đẳng chỉ sau hai năm học. Hiện nay có 34 trường cao đẳng tại tiểu bang Washington và chỉ 20 trường trong số đó cung cấp chương trình học đặc biệt này cho học sinh quốc tế.

 

Các lợi ích vượt trội của chương trình hoàn tất trung học sớm so với kiểu học truyền thống

  • 1Tiết kiệm thời gian và chi phí đến 2 năm.
  • 2Nhận được hai văn bằng với thời gian và chi phí của một.
  • 3Tốt nghiệp đại học sớm hơn từ 1 đến 2 năm so với các bạn cùng trang lứa.

 

Minh họa chương trình hoàn tất trung học sớm

15 Tuổi
- Học lớp 10 tại Việt Nam.
16 Tuổi
- Học cao đẳng tại bang Washington.
17 Tuổi
- Nhận bằng tốt nghiệp Cao đẳng và Trung học Phổ thông do tiểu bang Washington cấp.
18 Tuổi
- Chuyển vào năm 3 chương trình cử nhân của một trường đại học tại bất cứ tiểu bang nào theo nguyện vọng.
19 Tuổi
- Tốt nghiệp bằng Cử nhân tại Mỹ.

 

Điều kiện tham gia chương trình

  • 1Học sinh đủ 16 tuổi trở lên và chưa tốt nghiệp THPT trước ngày khóa học bắt đầu.
  • 2Học sinh cần đạt điểm trung bình từ 6.5 trong 2 năm học gần nhất.
  • 3Học sinh có tố chất năng động và khả năng sống tự lập để hòa nhập tốt với môi trường cao đẳng.
  • 4Nếu học sinh chưa đủ điểm IELTS 5.5 hoặc TOEFL iBT 61 sẽ phải học chương trình Anh ngữ toàn thời gian.

 

Thông tin chi phí chương trình hoàn tất trung học sớm

Tổng chi phí ước tính $21,000/năm
Học phí: $10,350/năm
Sinh hoạt phí: $9,000/năm
Các phí khác: $1,650/năm
Bảo hiểm: $930/năm

 

Cơ hội học bổng

Công ty tư vấn du học Thế Hệ Mới là đại diện tuyển sinh chính thức của nhiều trường cao đẳng tại Mỹ có cấp học bổng.

 

Các kỳ nhập học hằng năm

  • 1Mùa Đông: Từ tháng 1 đến tháng 3.
  • 2Mùa Xuân: Từ tháng 4 đến tháng 6.
  • 3Mùa Hè: Từ tháng 6 đến tháng 8.
  • 4Mùa Thu: Từ tháng 9 đến tháng 12.

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Ở Mỹ, chương trình học của các trường phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà còn khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng trường. Rất nhiều người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề biết gì về thuyết Darwin.

 

1. Trẻ em Mỹ "không cần" trường

"Không cần" theo nghĩa đen, không phải một cách nói ví von hoa mỹ về một thực tế khác cũng ngược đời nếu so với giáo dục Việt Nam: Nhà trường chỉ là một thành phần, cho dù là một thành phần quan trọng, trong một phức hợp xã hội có nhiệm vụ giáo dục những công dân Mỹ tương lai.

Nhà trường không và cũng không thể thay thế được gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, văn học nghệ thuật, viện bảo tàng, lễ hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động thể thao... "Không cần" ở đây có nghĩa là trẻ em Mỹ có thể học ở nhà, theo chế độ homeschooling (học tại gia).

Chế độ "Học tại nhà" (Home schooling) cho phép cha mẹ tự giáo dục con cái thay vì cho chúng đến trường mà không yêu cầu phải có chứng chỉ gì đặc biệt. Nhiều người Mỹ cho rằng đó là cách để trẻ em có thể phát huy tính tự lập, chủ động trong cả 365 ngày chứ không chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động trong những lúc đến trường. Đó là một nguyên lý giáo dục khác hẳn, dựa trên quan điểm là mọi bậc cha mẹ đều có thể giúp đỡ con cái học tại nhà.

Nhiều gia đình không hề sử dụng các tài liệu hướng dẫn hay chương trình giảng dạy chính thức, mà căn cứ vào thiên hướng và phong cách cá nhân của trẻ em để áp dụng các phương pháp và nội dung cụ thể.

Ngay cả trong trường hợp có sử dụng các tài liệu hướng dẫn, thời gian học tập hàng ngày cũng không kéo dài quá vài tiếng đồng hồ, thời gian còn lại dùng để du lịch, biểu diễn, tham quan, đọc sách, tiến hành các dự án nghiên cứu hay tham gia hoạt động từ thiện. Hiện nay có khoảng 1 triệu gia đình ở Mỹ áp dụng và theo thống kê đang tăng lên khoảng 15% mỗi năm.

 

2. Trẻ em Mỹ cũng không theo một chương trình thống nhất

Ở Mỹ, chương trình học của các trường phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà còn khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng trường. Rất nhiều người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề biết gì về thuyết Darwin.

Ở một số địa phương, đặc biệt là tại các bang ở miền Nam, do ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiên Chúa Giáo, giảng dạy thuyết Darwin thậm chí còn bị coi là phi pháp. Vì không học theo một giáo trình thống nhất, trình độ của học sinh khi tốt nghiệp trung học rất khác nhau. Chính vì lẽ đó, ở năm thứ nhất, các trường đại học Mỹ thường có 3 môn bắt buộc là Học nghĩ, Học nói và Học viết.

Trong số 18 sinh viên lớp Học viết (English 101) do tôi phụ trách, có những sinh viên hiểu biết rất rộng và sâu, nhưng cũng có sinh viên thậm chí viết tiếng Anh còn sai chính tả và ngữ pháp. Tuy vậy, họ có một điểm chung là rất tự tin. Đó là kết quả của một triết lý giáo dục mang tính dân chủ. Việc chấm điểm, chẳng hạn. Nếu ở ta chấm điểm là biện pháp nhằm xếp loại học sinh và đánh giá giáo viên, điều cuối cùng dẫn giáo viên đến tình trạng chạy theo thành tích và rất nhiều học sinh đến tâm lý tự ti.

Không tự ti sao được khi một đứa trẻ từ lớp 1 đến lớp 12 luôn luôn đội sổ, và điều đó được công bố cho tất cả bạn bè cùng lớp. Ở Mỹ, việc chấm điểm là vấn đề tế nhị, thường là giữ kín. Nó là cơ sở để học sinh tự biết mình và để giáo viên điều chỉnh phương pháp giáo dục với từng học sinh. Nhà trường Mỹ luôn cố gắng để học sinh không cảm thấy thua chị kém em. Ngay cả thi tốt nghiệp phổ thông cũng không có vai trò quan trọng như ở Việt Nam hay ở Châu Âu. Có thể nói, nhà trường ở Mỹ là nhà trường không nhằm mục đích thi cử.

 

3. Các trường phổ thông của Mỹ không có Sách Giáo Khoa chung trong cả nước

Việc lựa chọn các loại sách để dạy trong nhà trường thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên trách địa phương và nhà trường, nhưng vai trò cá nhân của giáo viên và ý kiến của phụ huynh cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, cuối tháng 9 năm 2003, khi tôi vừa đến Normal, cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Hoa Kỳ đoạt giải Nobel John Steinbeck, "Of Mice and Men" (Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu dịch là "Của chuột và người"), cùng hai tác phẩm kinh điển khác là "The Adventures of Huckleberry Finn" (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Mark Twain và "To Kill a Mockingbird" (Giết chết một con chim Mocking) của Harper Lee, bị cha mẹ học sinh các trường trung học phản đối và đòi đưa ra khỏi chương trình văn học.

Hai trường trung học Normal Comunity High School và Normal West High School phải thành lập một chuyên ban, bao gồm hiệu trưởng, một chuyên gia thông tin đại chúng và một giáo viên, để nghiên cứu và trả lời phụ huynh học sinh.

Bà Tripp, phụ huynh học sinh và là tác giả một trong hai lá thư khiếu nại, phê phán cuốn sách của John Steinbeck là chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ thô tục và báng bổ, "không thể hiện các giá trị truyền thống", "gây phản cảm" đối với con gái bà.

Đây không phải là trường hợp cá biệt. Năm 1992, khi một nhóm độc giả ở bang Ohio chỉ ra 108 chỗ tục tĩu, 12 chỗ chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc và 45 đoạn báng bổ Chúa, cuốn sách này đã bị buộc đưa ra khỏi chương trình của một trường phổ thông địa phương.

Ngay sau đó, 150 nhà giáo, sinh viên và phụ huynh học sinh đã tổ chức một cuộc hội thảo ca ngợi giá trị của cuốn sách, cuối cùng nó được đưa trở lại chương trình. Mùa hè năm 2003, Hội đồng giáo dục quận Coffee County (Bang Georgia) cũng phải tiến hành thẩm định vấn đề "ngôn ngữ dung tục" của cuốn sách "Of Mice and Men" khi có khiếu nại của một số phụ huynh học sinh. Đầu năm 2003, Hội đồng nhà trường quận George County ở Lucedale (Bang Mississippi) đã nhất trí loại "Of Mice and Men" cùng hai cuốn sách khác ra khỏi chương trình.

 

4. Coi nhà trường như doanh nghiệp

Nếu như ở Việt Nam, cho đến nay thương mại hoá giáo dục vẫn gây tranh cãi và bị nhiều người coi là tồi tệ, thì ở Mỹ nó đang tồn tại như một cái gì đó hết sức tự nhiên.

Khác với Việt Nam, các trường đại học Mỹ nói chung không có thi đầu vào. Quan điểm của họ rất đơn giản: Học tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác nhau. Nhờ vậy, tất cả những ai có chí đều có thể có cơ hội, ngược lại quốc gia cũng không bỏ phí nhân tài.

Vào thập kỷ 1960, số học sinh Mỹ tốt nghiệp phổ thông học tiếp lên đại học chiếm tỷ lệ 60%. Hiện nay, tỷ lệ này có giảm đi, nhưng vẫn đứng đầu thế giới. Nhưng muốn học, phải trả tiền. Khi anh bỏ tiền để mua kiến thức, anh sẽ có ý thức về việc học tập hơn. Còn nếu anh trả tiền mà không học, tức không nhận kiến thức, thì đó cũng là quyền của anh.

Nói vậy, nhưng việc đăng ký học cũng không phải hoàn toàn chỉ có chuyện tiền nong. Một số trường nổi tiếng khá kén chọn sinh viên. Một số bang cũng ưu tiên nhận sinh viên từ bang mình. Còn đối với sinh viên nước ngoài, điểm thi tiếng Anh (TOEFL) đặc biệt quan trọng. Trường Đại học Y khoa là một ngoại lệ. Muốn vào trường, sinh viên phải có bằng tốt nghiệp đại học thuộc một số ngành như sinh hoá, sinh vật... Chương trình kéo dài 4 năm nữa, sau đó phải thực tập từ 2 đến 4 năm. Như vậy, để hành nghề chữa bệnh, cần phải học và thực tập từ 10 - 12 năm!

Việc học tập ở Mỹ rất tốn kém. Mức chi tiêu tối thiểu của một sinh viên ở các trường công, vào khoảng 10,000 USD/năm, còn ở các trường tư khoảng 35,000 USD. Vì thế, trừ một số người được nhận học bổng hoặc gia đình giàu có, sinh viên Mỹ hầu hết vừa học vừa làm, một số làm việc ngay tại trường.5.

 

5. Bất chấp những chuyện ngược đời vừa kể giáo dục Mỹ vẫn có chất lượng cao nhất thế giới.

Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất, nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất, hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất.

 

Nguồn: Tác giả Ngô Tự Lập 

 

Có khoảng 13 triệu sinh viên đang học tại 1,132 trường cao đẳng cộng đồng trên khắp nước Mỹ. Gần 45% sinh viên tốt nghiệp đại học đã từng học tại cao đẳng cộng đồng trước khi chuyển tiếp lên đại học. Những người nổi tiếng cũng đã từng học tại cao đẳng cộng đồng như chính trị gia Sarah Palin và Arnold Schwarzenegger; doanh nhân Steve Jobs và Walt Disney; diễn viên James Dean, Eddie Murphy, Tom Hanks, Halle Berry...

 

Chương trình đào tạo

Ngày càng nhiều sinh viên quốc tế học cao đẳng cộng đồng, nơi đem đến cơ hội phổ biến giúp sinh viên hoàn thành hai năm đầu chương trình cấp bằng cử nhân. Sinh viên coi trường cao đẳng cộng đồng như điểm khởi đầu trong nỗ lực học tập lấy bằng đại học bốn năm hoặc bằng cao học tại một trường đại học Mỹ. Hai năm học đầu tiên này được thiết kế nhằm cung cấp kiến thức cơ bản cho sinh viên trước khi bắt đầu tập trung học môn chính.

Trong thực tế, nhiều chuyên gia tư vấn đại học cho rằng sinh viên nên học chương trình “chuyển tiếp lên đại học” tại trường cao đẳng cộng đồng trước, sau đó chuyển tiếp lên đại học trong hai năm cuối. Sinh viên chuyển điểm hoặc sử dụng tín chỉ từ trường cao đẳng cộng đồng để lấy bằng đại học hệ bốn năm.

Nhiều trường cao đẳng cộng đồng và trường đại học hệ bốn năm ký hợp đồng liên kết giúp cho việc chuyển tiếp được dễ dàng hơn. Ví dụ, khi sinh viên nộp đơn vào Cao đẳng Cộng đồng Seattle, sinh viên có thể được cấp thư Đảm Bảo Chuyển Tiếp từ Trường Đại Học Johns Hopkins - Carey Bussiness School. Ngoài ra, trường cao đẳng cộng đồng thường tổ chức các buổi “triển lãm chuyển tiếp” và mời các trường đại học hệ bốn năm tham gia và tuyển sinh viên.

Ngoài chương trình chuyển tiếp lên đại học, trường cao đẳng cộng đồng ở Mỹ còn có các chương trình đào tạo hàng trăm ngành nghề như: quản trị kinh doanh, khoa học máy tính, điều dưỡng, thiết kế thời trang, quản lý khách sạn và nhà hàng, công nghệ nano, nhiếp ảnh, nghệ thuật quảng cáo, công nghệ hàng không. Sinh viên quốc tế hoàn thành 1 văn bằng cao đẳng có đủ điều kiện tham gia Chương Trình Thực Tập Tùy Chọn (OPT) và được phép làm việc có nhận lương trong lĩnh vực đã học trong thời gian từ 1 đến 3 năm.

Đặc biệt các trường cao đẳng tại tiểu bang Washington có chương trình Hoàn Tất Trung Học Sớm, với chương trình này các sinh viên năng động từ 16 tuổi có thể tham gia học để tốt nghiệp cả bằng trung học và bằng cao đẳng chỉ trong phòng 2 năm.

 

Trường cao đẳng ở Mỹ
Ảnh: Một góc trường cao đẳng Green River College, bang Washington.
 

Những điểm khác biệt

Cao đẳng Cộng đồng khác trường đại học hệ bốn năm ở những điểm sau:

- Nhập học dễ dàng hơn: Điểm TOEFL (Test of English as a Foreign Language) và các yêu cầu tuyến sinh đối với trường cao đẳng cộng đồng thường thấp hơn so với trường đại học hệ bốn năm. Nhiều trường cao đẳng cộng đồng có chương trình ESL (Tiếng Anh Toàn Thời Gian) hoặc bồi dưỡng Toán cho các sinh viên có điểm quá thấp trước khi bắt đầu học chương trình học thuật.

- Chi phí thấp hơn: Học phí tại trường cao đẳng cộng đồng có thể thấp hơn từ 20% đến 80% so với trường cao đẳng và đại học hệ bốn năm của Mỹ. Điều này giúp sinh viên tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong hai năm đầu lấy bằng cử nhân.

- Sĩ số lớp học nhỏ: Số lượng sinh viên trong lớp hoặc trong trường thường ít hơn so với trường đại học hệ bốn năm. Giảng viên và chuyên gia tư vấn có thể dành nhiều thời gian cho từng sinh viên hơn. Nhiều sinh viên quốc tế và Mỹ cho rằng học tập tại trường có quy mô nhỏ trong hai năm đầu giúp sinh viên dễ dàng hòa nhập với trường đại học hệ bốn năm quy mô lớn trong hai năm cuối đại học.

- Môi trường lớp học thân thiện: Trong môi trường giáo dục Mỹ, sinh viên thường cạnh tranh nhau về điểm số. Sinh viên quốc tế không nói tiếng Anh tốt thường bị hạn chế. Thông thường, sinh viên quốc tế sẽ cảm thấy tốt và thoải mái hơn trong lớp học quy mô nhỏ nơi có ít sự cạnh tranh hơn. Ngoài ra, trường cao đẳng cộng đồng có hỗ trợ dạy kèm miễn phí cho sinh viên để đạt thành công.

- Thích nghi dễ dàng hơn: Hai năm tại trường cao đẳng cộng đồng giúp sinh viên quốc tế nâng cao kỹ năng tiếng Anh và làm quen với hệ thống giáo dục và văn hóa Mỹ, đây là các yếu tố quan trọng để sinh viên đạt thành công trong học tập khi chuyển tiếp đến các trường đại học.

 

Loại hình nhà ở

- Nội trú: học sinh học tập và sinh hoạt tại ký túc xá của trường.

- Bán trú: học sinh ở cùng với người thân hoặc gia đình bản xứ (homestay).

- Thuê căn hộ: chia sẻ phòng ở cùng các sinh viên khác đủ 18 tuổi trở lên.

 

Thông tin chi phí

Ước tính cho 1 năm học
Học phí: $10,350/năm
Sinh hoạt phí: $9,000/năm
Các phí khác: $531/năm
Sách vở: $1,119/năm
Bảo hiểm: $930/năm

 

Các kỳ nhập học

- Mùa Đông nhập học tháng 1.

- Mùa Xuân nhập học tháng 4.

- Mùa Hè nhập học tháng 6.

- Mùa Thu nhập học tháng 9.

 

Điều kiện nhập học

- Học sinh từ 16 tuổi và hoàn tất 1 năm học lớp 10 ở trường trung học phổ thông.

- Kết quả học tập 2 năm gần nhất từ 6.0 trở lên.

- Một số trường yêu cầu học sinh phải thông thạo Anh Văn đạt điểm thi IELTS 5.5 hoặc TOEFL iBT 61.

- Các học sinh chưa đạt yêu cầu về Anh Văn nên chọn trường có khóa Anh ngữ tăng cường (ESL).

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Nếu bạn chuẩn bị xin visa du học Mỹ, hẳn là bạn đã nghe nhiều lời đồn về việc xét cấp thị thực và phần lớn những gì bạn nghe đều không phải là sự thật. Hãy đọc kỹ 10 nhận định sai lầm về thị thực du học Mỹ dưới đây để thoải mái tâm lý và chuẩn bị chu đáo cho hồ sơ xin visa du học của bạn.

Nhận định sai lầm thứ 1
"Hoa Kỳ đặt một hạn ngạch vào thị thực để hạn chế số lượng sinh viên nước ngoài vào nước này." Thực tế: Không có giới hạn về số lượng thị thực sinh viên của Đại sứ quán và lãnh sự quán Mỹ trên toàn thế giới. Nếu bạn là một người nộp đơn xin thị thực sinh viên có đủ trình độ đã đạt được nhận vào một trường học được cấp phép tại Mỹ, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ muốn bạn được theo đuổi cơ hội đó.
Nhận định sai lầm thứ 2
"Tôi sẽ nhận được visa nếu tôi thuê một đại lý giáo dục." Thực tế: Đừng tin vào bất cứ ai nói với bạn rằng họ có thể chắc chắn 100% giúp bạn có được một thị thực. Không nên trả tiền hoặc thỏa thuận với một người tự xưng như vậy, chỉ có các viên chức lãnh sự mới có quyền truy cập đặc biệt vào hệ thống xét cấp thị thực của chính phủ Mỹ.
Nhận định sai lầm thứ 3
"Đương đơn cần phải có một định mức thu nhập tối thiểu để được cấp thị thực." Thực tế: Một đương đơn xin visa du học sẽ có thể cung cấp bằng chứng về tài chính cho thấy rằng, cha mẹ của bạn, hoặc người tài trợ của bạn có đủ tiền để trang trải học phí và chi phí sinh hoạt trong suốt thời gian học dự định của bạn tại Mỹ.
Nhận định sai lầm thứ 4
"Chỉ có các siêu sao học tập mới được cấp thị thực." Thực tế: Thị thực du học không dành riêng cho các sinh viên giỏi nhất, nhưng điều kiện đầu tiên để xin được thị thực cần có thư chấp nhận nhập học bởi một trường học được cấp phép tại Mỹ gọi là I-20. Khi bạn đã có thư này, bạn sẽ cần thực hiện các bước kế tiếp để xin thị thực. Trong buổi phỏng vấn bạn sẽ cần phải chứng minh cho viên chức lãnh sự rằng bạn là một sinh viên nghiêm túc đến Mỹ với mục đích học tập, bạn nắm bắt đầy đủ thông tin về trường bạn được nhận vào học và kế hoạch học tập của bạn.
Nhận định sai lầm thứ 5
"Trong buổi phỏng vấn, viên chức lãnh sự sẽ chờ đợi để nghe câu trả lời theo đúng công thức". Thực tế: Nhân viên lãnh sự sẽ muốn nghe câu trả lời của riêng bạn và một mô tả trung thực về hoàn cảnh cá nhân của bạn.
Nhận định sai lầm thứ 6
"Bạn chỉ được cấp thị thực nếu bạn thành thạo tiếng Anh." Thực tế: Nếu bạn đang có kế hoạch để học tiếng Anh ở Hoa Kỳ, bạn không cần phải chứng minh trình độ thông thạo Anh ngữ. Thông thạo tiếng Anh chỉ là một trong những yếu tố mà các viên chức lãnh sự sẽ sử dụng trong việc đánh giá năng lực tổng thể của một đương đơn xin thị thực du học. Tuy nhiên, thông thạo tiếng Anh lại là một điều kiện tiên quyết cho đương đơn xin visa diện trao đổi văn hóa J-1.
Nhận định sai lầm thứ 7
"Bạn chỉ được cấp được thị thực nếu bạn có người thân ở Hoa Kỳ." Thực tế: Điều này không đúng. Các viên chức phỏng vấn có thể hỏi về các người thân ở Hoa Kỳ của bạn trong cuộc phỏng vấn xin visa, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là bạn sẽ được cấp visa hay không được cấp visa với lý do bạn có thân nhân đang sống tại Mỹ. Viên chức lãnh sự luôn hiểu rằng bạn không được chọn sẽ sinh ra trong gia đình nào, cha mẹ bạn là ai, thân nhân đang sống ở đâu nên phần lớn việc xét cấp visa chủ yếu nằm ở chính hoàn cảnh của người xin visa, ngoại trừ khi người thân trực hệ của bạn đã đến Mỹ theo những cách bất hợp pháp.
Nhận định sai lầm thứ 8
"Học sinh quốc tế không được phép làm việc trong khi đến Hoa Kỳ bằng thị thực du học." Thực tế: Có một số cơ hội việc làm cho sinh viên quốc tế, như chương trình vừa học vừa làm trong khuôn viên trường với số giờ hạn chế hoặc các chương trình thực tập tùy chọn (optional practical training) sau khi sinh viên hoàn tất 1 văn bằng.
Nhận định sai lầm thứ 9
"Bạn phải có toàn bộ kế hoạch tương lai của bạn để được cấp thị thực." Thực tế: Bạn cần có thể thảo luận về một kế hoạch học tập thực tế, nhưng không phải là một kế hoạch chi tiết cho toàn bộ sự nghiệp của bạn.
Nhận định sai lầm thứ 10
"Bạn phải trở về nước ngay sau khi hoàn tất văn bằng của mình." Thực tế: Sau khi hoàn tất mỗi chương trình học cấp văn bằng, bạn có thể nộp đơn cho chương trình thực tập tùy chọn (optional practical training) để làm việc toàn thời gian đến 6 năm trong lĩnh vực bạn đã học ở Hoa Kỳ để có được kinh nghiệm thực tế.

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Ngay sau khi buổi phỏng vấn kết thúc, nếu đương đơn không được cấp thị thực thì viên chức lãnh sự Mỹ luôn cung cấp thư từ chối bằng song ngữ Anh - Việt trình bày trên 2 mặt của 1 tờ giấy khổ A4, nội dung thư ghi rõ lý do từ chối cấp thị thực chiếu theo các điều khoản của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) như sau:

Điều khoản 214(b) - Visa Qualifications and Immigrant Intent
"Từ chối tạm thời vì đương đơn chưa hội đủ điều kiện được cấp thị thực không định cư" Điều khoản 214(b) của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) thường được áp dụng cho đương đơn xin các loại thị thực không định cư. Trong mọi cuộc phỏng vấn xét thị thực không di định cư, viên chức phỏng vấn phải áp dụng điều khoản 214(b) của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) để quyết định xem đương đơn có đủ điều kiện được cấp thị thực hay không. Một phần điều khoản này nêu rằng: “Mỗi đương đơn đều được xem như có ý định định cư cho đến khi đương đơn, vào thời điểm xin cấp thị thực, thuyết phục được viên chức lãnh sự rằng đương đơn hội đủ điều kiện được cấp thị thực không định cư”. Điều đó có nghĩa là viên chức Lãnh Sự xem xét trường hợp của đương đơn dựa trên tinh thần của điều luật, luôn cho rằng đương đơn có ý định định cư tại Hoa Kỳ cho đến khi đương đơn chứng minh được điều ngược lại. Cần nhấn mạnh rằng bản thân đương đơn phải có trách nhiệm chứng minh đương đơn hội đủ tiêu chuẩn để được cấp thị thực. Đương đơn xin thị thực phải thuyết phục được viên chức Lãnh Sự những điều sau:

  • Đương đơn phải sử dụng loại thị thực được cấp đúng mục đích và hợp pháp.
  • Đương đơn có đủ khả năng tài chính để chi trả cho chuyến đi của mình mà không tìm việc làm bất hợp pháp trong thời gian ở Hoa Kỳ.
  • Đương đơn có "các mối ràng buộc chặt chẽ" với quê hương và sẽ rời khỏi Hoa Kỳ sau thời gian lưu trú tạm thời.

Đương đơn có thể đưa ra những chứng cứ dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng khi tổng hợp lại, những chứng cứ này phải đủ để viên chức phỏng vấn đánh giá được hoàn cảnh chung của đương đơn và tin rằng những mối ràng buộc về xã hội, gia đình, kinh tế và các ràng buộc khác của đương đơn tại Việt Nam là lý do buộc đương đơn phải rời khỏi Hoa Kỳ sau khi kết thúc thời gian lưu trú tạm thời. “Những mối ràng buộc chặt chẽ” là các khía cạnh cuộc sống của đương đơn ràng buộc đương đơn với nơi mình cư trú, bao gồm các mối quan hệ gia đình, công việc và tài sản.

Trong trường hợp những đương đơn nhỏ tuổi chưa thể thiết lập được những ràng buộc nói trên, viên chức phỏng vấn sẽ xem xét trình độ học vấn, điểm số học tập, nghề nghiệp của cha mẹ, những kế hoạch dài hạn cũng như triển vọng của đương đơn ở Việt Nam. Vì mỗi đương đơn mỗi hoàn cảnh khác nhau, do đó sẽ không có bất kỳ câu trả lời mẫu nào chứng minh được những ràng buộc này. Mỗi đương đơn nên chuẩn bị để trình bày trường hợp của mình thật rõ ràng và súc tích.

Đương đơn có thể yêu cầu buổi phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh. Những ràng buộc cụ thể có đủ thuyết phục để được cấp thị thực hay không khác nhau tuỳ thuộc vào từng quốc gia, vào từng nền văn hoá, và tuỳ từng cá nhân. Tất cả các viên chức Lãnh Sự đều có kiến thức về tình hình địa phương và luật di trú Hoa Kỳ để giúp họ đưa ra quyết định này.

Điều khoản 214(b) không phải là 1 lệnh cấm vĩnh viễn. Nếu đương đơn đã bị từ chối cấp thị thực trước đây nhưng hiện tại đương đơn có thêm các thông tin mới, hoặc nếu hoàn cảnh chung của đương đơn đã thay đổi đáng kể, hoặc có các hồ sơ quan trọng chưa được xem xét trong lần phỏng vấn trước, thì đương đơn có thể nộp đơn xin phỏng vấn lại để được xử lý bởi một viên chức Lãnh Sự khác. Khi bị từ chối cấp thị thực, đương đơn không thể khiếu nại về quyết định của viên chức Lãnh Sự, nộp đơn tái phỏng vấn là cách duy nhất để hồ sơ của đương đơn được xem xét lại.

Một quan niệm sai lầm phổ biến về điều khoản 214(b) khi cho rằng chỉ cần bổ sung thêm hồ sơ là có thể hội đủ điều kiện được cấp thị thực. Tuy nhiên, quyết định về thị thực không đơn thuần chỉ dựa trên giấy tờ. Đúng hơn, viên chức lãnh sự luôn xem xét toàn bộ hoàn cảnh chung của đương đơn để quyết định xem trường hợp của đương đơn có nằm ngoài giả định của luật pháp Hoa Kỳ khi cho rằng đương đơn có ý định định cư hay không. Các giấy tờ cần thiết có thể giúp viên chức Lãnh Sự có những quyết định đúng đắn, tuy nhiên, không một giấy tờ riêng lẻ hay một thông tin đơn thuần nào bảo đảm việc được cấp thị thực.

Điều khoản 221(g) - Incomplete Application or Supporting Documentation
"Từ chối tạm thời cho đến khi đương đơn bổ sung đầy đủ thông tin hoặc hồ sơ cần thiết để được xét cấp thị thực" Khác với trường hợp thị thực bị từ chối theo điều khoản 214(b), nếu bạn bị từ chối theo điều 221(g) có nghĩa là viên chức lãnh sự không có đủ các thông tin hoặc hồ sơ cần thiết để xét cấp visa tại thời điểm bạn nộp đơn xin thị thực. Việc xét duyệt hồ sơ của bạn đang trong trạng thái chờ hành động kế tiếp với một trong hai lý do sau đây:

  • Đơn xin visa của bạn chưa hoàn tất hoặc thiếu các tài liệu cần thiết: Bạn sẽ nhận được một lá thư nói đơn xin visa của bạn đã bị từ chối theo điều 221(g) và danh sách tài liệu mà bạn cần phải cung cấp và làm thế nào để cung cấp cho các đại sứ quán hoặc lãnh sự quán.
  • Xử lý hành chính: Công tác xử lý hành chính về đơn xin visa của bạn là cần thiết để xem xét bạn có hội đủ điều kiện được cấp thị thực hay không. Bạn sẽ nhận được một lá thư nói rõ điều này và hướng dẫn bạn các bước kế tiếp. Thông thường thời gian xử lý hành chính có thể kéo dài đến 60 ngày.

Hầu hết các trường hợp bị từ chối theo điều khoản 212(g) chỉ cần thực hiện đúng các hướng dẫn trong thư từ chối để được xét cấp thị thực và không cần phải đóng lại phí phỏng vấn hoặc tham dự buổi phỏng vấn trực tiếp với viên chức lãnh sự. Các đương đơn sẽ có 12 tháng để gửi các giấy tờ được yêu cầu kể từ ngày nộp đơn mà không phải trả phí xét đơn xin visa mới. Sau 12 tháng, tình trạng bị từ chối theo điều khoản 221(g) sẽ hết hạn theo quy định của điều khoản 203(e) và khi đó đương đơn phải thực hiện hồ sơ xin thị thực lại từ đầu.

Điều khoản 214(a)(4) - Public Charge
"Từ chối tạm thời vì lý do đương đơn có thể là gánh nặng đối với ngân sách công của Hoa Kỳ" Đương đơn xin thị thực phải chứng minh đủ nguồn hỗ trợ tài chính trong thời gian dự định lưu trú tại Hoa Kỳ. Việc từ chối thị thực vì lý do "Gánh nặng đối với ngân sách công của Hoa Kỳ" thường ít xảy ra đối với các đơn xin thị thực không định cư, nhưng vẫn có thể xảy ra.

Điều khoản 214(a)(4) không phải là 1 lệnh cấm vĩnh viễn. Để vượt qua sự từ chối thị thực vì lý do "Gánh nặng đối với ngân sách công của Hoa Kỳ", đương đơn phải chứng minh rằng họ sẽ có đủ nguồn hỗ trợ tài chính trong thời gian họ dự định lưu trú tại Hoa Kỳ. Viên chức lãnh sự sẽ xem xét các bằng chứng bổ sung mà đương đơn nộp để xác định xem những bằng chứng đó có đủ để khắc phục tình trạng bị từ chối theo điều 214(a)(4) hay không.

Điều khoản 212(a)(9)(B)(i) - Unlawful Presence in the United States
"Hình phạt từ chối cấp thị thực trong 1 thời gian do đương đơn đã từng cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ"Điều khoản từ chối cấp thị thực 212(a)(9)(B)(i) áp dụng hình phạt có thời hạn cho các đương đơn bị cho là đã cư trú bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, hoặc đã ở lại Hoa Kỳ sau ngày hết hạn của thời gian được phép lưu trú. Khi bị từ chối cấp thị thực theo điều luật này, đương đơn không đủ điều kiện được cấp thị thực tùy theo khoảng thời gian đã cư trú bất hợp pháp như sau:

  • Cư trú bất hợp pháp tại Hoa Kỳ hơn 180 ngày nhưng dưới 1 năm: Không được cấp thị thực trong 3 năm kể từ ngày rời khỏi Hoa Kỳ.
  • Cư trú bất hợp pháp tại Hoa Kỳ hơn 1 năm: Không được cấp thị thực trong 10 năm kể từ ngày rời khỏi Hoa Kỳ.

Bạn sẽ được tư vấn bởi các viên chức lãnh sự nếu bạn ở trong trường hợp có thể nộp đơn xin miễn trừ tình trạng không đủ điều kiện cấp thị thực này.

Điều khoản 212(a)(6)(C)(i) - Fraud and Misrepresentation
"Từ chối cấp thị thực vĩnh viễn vì hồ sơ giả mạo hoặc cung cấp thông tin không đúng sự thật"

Điều khoản từ chối cấp thị thực 212(a)(6)(C)(i) của Bộ Di Trú và Nhập tịch áp dụng hình phạt nghiêm trọng đối với các đương đơn xin thị thực cố tình nộp bằng chứng giả mạo hoặc cung cấp thông tin sai lệch cho chính phủ Hoa Kỳ liên quan đến luật Nhập Tịch. Nếu đơn xin thị thực của đương đơn đã bị từ chối theo điều khoản 212(a)(6)(C)(i) vì lý do cung cấp thông tin sai lệch hoặc giấy tờ giả mạo cho viên chức Lãnh sự trong cuộc phỏng vấn, thì đương đơn sẽ VĨNH VIỄN không hội đủ điều kiện để nhập cảnh Hoa Kỳ.

Xin hiểu rằng điều này có nghĩa rằng, không những hồ sơ hiện tại của đương đơn sẽ bị từ chối, mà tất cả các đơn xin thị thực trong tương lai của đương đơn cũng sẽ bị từ chối, bất kể mục đích đến Hoa Kỳ của đương đơn, vị trí của đương đơn trong cộng đồng doanh nghiệp, nhà nước hay tuổi tác của đương đơn tại thời điểm nộp đơn xin thị thực sau này. Việc cung cấp thông tin sai lệch hoặc giấy tờ giả mạo trong buổi phỏng vấn xin thị thực là một hành vi phạm tội nghiêm trọng và sẽ tác động lâu dài đến cơ hội kinh doanh, học tập hoặc du lịch thăm viếng bạn bè thân nhân của đương đơn tại Hoa Kỳ trong tương lai. Xin vui lòng hết sức thận trọng vấn đề này khi chuẩn bị đơn xin thị thực.

Nếu quý vị từng bị từ chối cấp thị thực theo điều khoản 212(a)(6)(C)(i), trong một số trường hợp đặc biệt, Công ty tư vấn du học Thế Hệ Mới có thể giúp quý vị nộp đơn xin miễn trừ trường hợp này, tuy nhiên mỗi đương đơn đều có hoàn cảnh khác nhau nên chúng tôi chỉ có thể tư vấn dịch vụ đặc biệt này trực tiếp với quý vị theo lịch hẹn trước.

 

Thông tin chi tiết và dịch vụ visa du học, du lịch, định cư xin vui lòng liên hệ Công Ty Thế Hệ Mới

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • Website: www.thm.vn
  • Facebook: www.facebook.com/thm.vn

 

Trong nhiều năm qua, Hoa Kỳ đã trở thành một điểm đến du học hàng đầu của học sinh Việt Nam. Giáo dục Mỹ đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu học tập của mọi đối tượng, có nhiều trường được cấp phép nhận học sinh quốc tế theo học từ độ tuổi 12, tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là 4 chương trình du học Mỹ như sau:

 

1. Chương trình trung học phổ thông tại Mỹ

Học trung học tại Mỹ có nhiều lợi thế giúp học sinh đăng ký vào các trường đại học ở Mỹ thuận lợi hơn rất nhiều so với việc đăng ký trực tiếp vào Đại học từ nước ngoài. Lý do là các chương trình đào tạo ở trường trung học của nước này đã cung cấp nhiều kiến thức và kỹ năng quan trọng cho học sinh, ngoài ra các học sinh có năng lực học tập cao có thể đăng ký học các môn AP để hoàn thành một số tín chỉ chương trình đại học ngay khi còn đang học trung học. Chính vì thế, nhiều chuyên gia cho rằng việc học trung học phổ thông tại Mỹ sẽ giúp học sinh quốc tế có được những chuẩn bị tốt nhất về mặt kiến thức cũng như kỹ năng trước khi bước vào ngưỡng cửa cao đẳng - đại học tại Mỹ. Năm điều mà học sinh quốc tế nhận được khi du học Mỹ từ bậc trung học là:

  • Nâng cao các kỹ năng thông thạo tiếng Anh.
  • Chọn đúng chuyên ngành phù hợp.
  • Thuận tiện hơn trong khâu nộp đơn vào Đại học.
  • Rèn luyện các kỹ năng học tập quan trọng.
  • Nâng cao kiến thức xã hội.

Trường trung học ở Mỹ thường bắt đầu từ lớp 9 đến lớp 12. Học sinh tham gia nhiều môn học nhưng không chú trọng đặc biệt trong bất kỳ lĩnh vực cụ thể nào. Học sinh được yêu cầu học một số môn bắt buộc, nhưng luôn có thể chọn các môn tự chọn. Mỗi tiểu bang đặt ra yêu cầu tối thiểu cho bao nhiêu năm của môn học bắt buộc khác nhau, nhưng thường bao gồm 2-4 năm của từng môn: Khoa học, Toán, tiếng Anh, khoa học xã hội, giáo dục thể chất; một số năm của một ngôn ngữ phụ và một số hình thức của giáo dục nghệ thuật, như chương trình y tế trong đó học sinh tìm hiểu về giải phẫu học, dinh dưỡng và giáo dục giới tính.

Nhiều trường trung học cung cấp chương trình danh dự Honor Program, chương trình nâng cao Advanced Placement (AP) hoặc tú tài quốc tế (IB). Đây là những hình thức đặc biệt mà học sinh gặp nhiều thử thách và bài học tích cực hơn so với nhịp độ khóa học tiêu chuẩn. Honors, AP hay IB thường được thực hiện trong các lớp 11 hoặc 12 của trường trung học, nhưng có thể được thực hiện sớm nhất là lớp 9, trong đó AP dùng để hoàn thành một số tín chỉ chương trình đại học ngay khi học sinh còn đang học trung học.

Học sinh quốc tế có thể đăng ký xin thị thực loại F-1 để nhập học tại một trường trung học tư thực hoặc loại J-1 để tham gia chương trình giao lưu văn hóa tại 1 trường công lập. Mỹ khuyến nghị du học sinh quốc tế chọn trường trung học tư thục (private high school) với loại visa F-1, tuy nhiên luật di trú Mỹ cũng cho phép học sinh quốc tế học tối đa 12 tháng tại 1 trường trung học công lập (public high school) bằng loại visa F-1 nếu trường công lập đó được phép cấp I-20.

 

2. Chương trình cao đẳng cộng đồng tại Mỹ

Có khoảng 15 triệu sinh viên đang học tại 1,132 trường cao đẳng cộng đồng (community college) trên khắp nước mỹ, gần 45% sinh viên tốt nghiệp đại học đã học tại cao đẳng cộng đồng và sau đó chuyển tiếp lên đại học. Ngày càng có nhiều sinh viên quốc tế học tập tại các trường cao đẳng cộng đồng Mỹ, nơi đem đến cơ hội phổ biến giúp sinh viên hoàn thành hai năm đầu chương trình cấp bằng cử nhân. Sinh viên quốc tế coi trường cao đẳng cộng đồng như điểm khởi đầu trong nỗ lực học tập lấy bằng đại học bốn năm hoặc bằng cao học tại một trường đại học Mỹ.

Trong thực tế, nhiều chuyên gia tư vấn đại học cho rằng sinh viên nên học chương trình giáo dục cơ bản tại trường cao đẳng cộng đồng trước, sau đó chuyển tiếp lên đại học để hoàn tất giai đoạn 2 năm chuyên ngành cuối cùng. Nhiều trường cao đẳng cộng đồng và trường đại học hệ bốn năm ký hợp đồng liên kết giúp cho việc chuyển tiếp được dễ dàng hơn. Ví dụ, khi sinh viên nộp đơn vào Cao đẳng Seattle Central College, sinh viên có thể tham gia chương trình Đảm Bảo Chuyển Tiếp đến trường Johns Hopkins University - Carey Business School sau khi hoàn tất bằng cao đẳng (associate's degree) với điểm trung bình từ 3.0 trở lên.

Ngoài chương trình chuyển tiếp lên đại học, trường cao đẳng cộng đồng ở Mỹ còn có các chương trình dạy nghề. Các chương trình này đào tạo sinh viên hàng trăm ngành nghề khác nhau: quản trị kinh doanh, lập trình máy tính, điều dưỡng, thiết kế thời trang, quản lý khách sạn và nhà hàng, công nghệ nano, công nghệ nhiếp ảnh, kỹ thuật hoặc nghệ thuật quảng cáo. Sinh viên hoàn thành các khóa học này sẽ nhận được bằng hoặc chứng chỉ. Sinh viên quốc tế hoàn thành chương trình dạy nghề tối thiểu chín tháng có đủ điều kiện tham gia chương trình thực tập tùy chọn (optional practical training) và được phép làm việc liên quan đến lĩnh vực đã học có nhận lương trong khoản thời gian tối đa 12 tháng.

Học ở cao đẳng cộng đồng khác với học ở trường đại học hệ bốn năm ở những điểm sau:

  • Nhập học dễ dàng: 
Điểm TOEFL hoặc IELTS và các yêu cầu tuyến sinh đối với trường cao đẳng cộng đồng thường thấp hơn so với trường đại học hệ bốn năm. Nhiều trường cao đẳng cộng đồng có chương trình ESL (Dạy Tiếng Anh Cho Người Nước Ngoài) hoặc bồi dưỡng toán cho các sinh viên có điểm quá thấp trước khi bắt đầu học chương trình học thuật.
  • Học phí thấp: Học phí tại trường cao đẳng cộng đồng có thể thấp hơn từ 30% đến 80% so với trường đại học của Mỹ. Điều này giúp sinh viên tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong hai năm đầu lấy bằng cử nhân.
  • Sĩ số lớp học nhỏ: Số lượng sinh viên trong lớp hoặc trong trường thường ít hơn so với trường đại học hệ bốn năm. 
Giảng viên và chuyên gia tư vấn có thể dành nhiều thời gian cho từng sinh viên hơn. Nhiều sinh viên quốc tế và Mỹ cho rằng học tập tại trường có quy mô nhỏ trong hai năm đầu giúp sinh viên dễ dàng hòa nhập với trường đại học hệ bốn năm quy mô lớn trong hai năm cuối đại học.
  • Môi trường lớp học thân thiện: 
Trong môi trường giáo dục Mỹ, sinh viên thường cạnh tranh nhau về điểm số. Sinh viên quốc tế không nói tiếng Anh tốt thường bị hạn chế. Thông thường, sinh viên quốc tế sẽ cảm thấy vui vẻ và thoải mái hơn trong lớp học quy mô nhỏ nơi có ít sự cạnh tranh hơn.
  • Dịch vụ hỗ trợ mạnh mẽ: Các trường cao đẳng cộng đồng thường cung cấp dịch vụ cho sinh viên quốc tế chu đáo hơn như hướng dẫn nộp đơn xin visa, tìm nhà ở, đón sân bay, tư vấn chọn lớp học, hỗ trợ các vấn đề về di trú.
  • Thích nghi dễ dàng: Hai năm tại trường cao đẳng cộng đồng giúp sinh viên quốc tế nâng cao kỹ năng tiếng Anh và làm quen với hệ thống giáo dục và văn hóa Mỹ.

 

3. Chương trình đại học tại Mỹ

Giáo dục đại học tại Mỹ nói chung đi theo triết lý là giáo dục toàn diện, từ đào tạo cử nhân (bachelor), thạc sĩ (master) đến tiến sĩ (Phd). Điều này có nghĩa rằng bất kể con đường học tập của bạn như thế nào, bạn sẽ được tiếp xúc với một loạt các khóa học trong các ngành khoa học xã hội, nhân văn, ngôn ngữ và khoa học tự nhiên. Văn bằng đại học ở Mỹ được gọi là bằng cử nhân, chương trình đào tạo cử nhân có độ linh hoạt cao và cho phép sinh viên tạo ra con đường học tập riêng của mình. Bằng cử nhân được cấp khi bạn hoàn thành được một số tín chỉ nhất định trong khoảng thời gian 4 năm. Sau khi hoàn tất mỗi môn học sinh viên sẽ nhận được số từ 3 đến 5 tín chỉ. Để nhận được bằng cử nhân sinh viên cần hoàn tất từ 120 - 130 tín chỉ học kỳ (semester credits) hoặc đến 180 - 190 tín chỉ mùa (quarter credits).

Hầu hết các chương trình cấp bằng cử nhân gồm bốn loại khóa học. Các khóa học cốt lõi là các khóa học bắt buộc quy định bởi trường và thường bao gồm một loạt các khóa học nhân văn, khoa học xã hội và toán học. Chuyên ngành chính của bạn là ngành mà bạn chọn tập trung nghiên cứu và chiếm từ 25 phần trăm và 50 phần trăm tổng số các khóa học để lấy bằng cử nhân của bạn. Chuyên ngành phụ của bạn là chuyên ngành học tập trung lớn thứ hai. Số lượng tín chỉ của nó thường bằng một nửa số tín chỉ của chuyên ngành chính. Các khóa học tự chọn có thể được lựa chọn học ở bất kỳ một khoa nào và bao gồm số tín chỉ cần thiết còn lại để tốt nghiệp.

Tiêu chí tuyển sinh đại học Mỹ thông thường yêu cầu:

  • Sinh viên đã hoàn tất bằng tốt nghiệp trung học.
  • Thông thạo tiếng Anh qua kết quả thi TOEFL iBT từ 61 điểm hoặc IELTS 6.0.
  • Các bài kiểm tra chuẩn hóa khác như SAT I, SAT II hoặc ACT.
  • Đủ khả năng tài chính để trang trải cho 1 năm học đầu tiên.

 

4. Chương trình học tiếng Anh tại Mỹ

Hàng năm có khoản 10,000 du học sinh đến Mỹ để học tiếng Anh. Nhiều sinh viên đến Mỹ học tiếng Anh để chuẩn bị nhập học vào đại học và cao đẳng ở Mỹ; các sinh viên khác đến để học tiếng Anh và trải nghiệm cuộc sống Mỹ; một số sinh viên đến để nâng cao tiếng Anh giúp tìm một công việc tốt hơn tại quê nhà.

Có thể chương trình Anh ngữ không phải là lựa chọn đầu tiên khi sinh viên nghĩ đến và nhiều sinh viên nghĩ rằng kỹ năng tiếng Anh của mình là tốt. Nhưng, sinh viên nên cân nhắc kỹ chương trình Anh ngữ, đặc biệt là chương trình tiếng Anh chuyên sâu. Nâng cao kỹ năng tiếng Anh sẽ giúp sinh viên có cơ hội đạt điểm TOEFL hoặc IELTS cao hơn, điều đó có nghĩa là sinh viên sẽ có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn trường phù hợp với định hướng học tập. Sinh viên cũng sẽ thấy lớp học trở nên dễ dàng hơn và học tập tốt hơn nhờ có khả năng tiếng Anh tốt.

Môi trường lớp học và hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ rất khác biệt. Sinh viên được khuyến khích tham gia thảo luận trong lớp, chia sẻ quan điểm, tranh luận và giải thích lý do, trình bày trước lớp và làm việc theo nhóm với các sinh viên khác trong lớp. Tham gia trong lớp cùng với bài kiểm tra, bài đố và làm các dự án là các yếu tố quyết định điểm số của môn học. Hầu hết các khóa học tiếng Anh đều có các đặc điểm như sau:

  • 20-25 giờ học mỗi tuần.
  • 5 cấp độ, mỗi cấp độ kéo dài 1 học kỳ hoặc 12 cấp độ, mỗi cấp độ kéo dài 1 tháng.
  • Sĩ số trung bình từ 16 đến 45 học viên/lớp, trường có sĩ số lớp học càng cao thì mức học phí càng thấp.
  • Học phí trung bình từ $600 đến $1,800/tháng tùy trường và tùy đặc điểm chương trình học.

 

Thông tin chi tiết xin vui lòng liên hệ với các văn phòng của Công Ty Tư Vấn Du Học Thế Hệ Mới:

  • TP. Hồ Chí Minh: 32B Trần Quang Khải, P.Tân Định, Quận 1. ĐT: (028) 38480099
  • TP. Đà Nẵng: 166 Nguyễn Văn Linh, P.Vĩnh Trung, Quận Thanh Khê. ĐT: (0236) 3583468
  • TP. Hội An: 570A Cửa Đại, Phường Sơn Phong. ĐT: (0235) 3911668
  • Website: https://www.thm.vn

 

Page 5 of 5